Sự tích các loài hoa Đà Lạt

Đây là một loại hoa đẹp rất phổ biến ở Đà Lạt, là loài thực vật ưa khí hậu ôn hòa, ... Nếu hoa Hồng là sứ giả của tình yêu hay Lay-ơn mang ý nghĩa của sự hẹn hò ...Mỗi loại hoa đều có những sự tích riêng mang nhiều ý nghĩa.

Đà Lạt được mệnh danh là "thành phố festival hoa" hãy cùng chúng tôi khám phá về các sự của nhưng loại hoa ở Đà Lạt.
1. Hoa Móng Cọp

Móng Cọp Xanh
Tên khoa học: Strongylondonmacrobotry L.
Tên Pháp: Jade Vine (cẩm thạch) Red Vine (đỏ).
Họ thực vật: PAPLLIONNACEAE (HỌ ĐẬU – Cánh bướm )

Y như tên gọi cẩm thạch hoa có màu xanh ngọt ngào, cánh hoa cong cong nhọn hướng lên trên như hình chiếc móng của mãnh thú, khi nở hoa bung ra như hình cánh bướm. Từ lúc nở đến lúc tàn hoa luôn đổi màu: sáng sớm màu cẩm thạch xanh Jade, giữa chưa nó đổi màu xanh lơ (beu) trời chiều cái hoa màu xanh lục, nhìn xem mùa hoa lúc trời chiều có vẻ huyền bí  và mơ hồ. Trên Đà Lạt hoa này được trồng rất nhiều.
 

Móng Cọp đỏ
Tên khoa học là Mucuna Bennetti.
Tên thường gọi là "Red Jade Vine".
Móng cọp đỏ có nguồn gốc từ New Guinea , hiếm hơn Móng cọp xanh, cả hai loại đều thích nghi với khí hậu nhiệt đới hay bán nhiệt đới. Hoa móng cọp đỏ có thể gây ngứa ngáy khó chịu khi đụng vào.
 
Móng Cọp Vàng
Tên khoe học Thunbergia mysorensis.
Tên thường gọi Clock Vine.
Thuộc họ Acanthaceas thường hay trồng ở các vườn kiểng Đà Lạt. Thunbergia mysorensis là một loài dây leo thân gỗ, lá xanh quanh năm có nguồn gốc từ Ấn Độ. Tên khoa học mysorensis được lấy từ tên một thành phố (Mysore) thuộc miền nam Ấn Độ. Dây leo có thể đạt đến 6 mét (20 feet) và có lá hẹp. Hoa có treo thành chùm có màu nâu đỏ và màu vàng ở giữa, cho hoa từ mùa xuân đến mùa thu.


2. Sự tích 
hoa Cẩm Tú Cầu

Chuyện kể lại rằng:
Từ rất lâu rồi, khi trái đất mới hình thành, khi con người dựa vào hoạt động săn bắn và hái lượm để tồn tại thì việc chiếm hữu lãnh thổ là điều thiết yếu để đánh giá quyền lực của mỗi nhóm người riêng lẻ.Vì sự sống con người bước vào thời kỳ hỗn loạn, với sự tranh giành của mười ba bộ tộc cùng chiến tranh xảy ra triền miên.
Chiến tranh với những cuộc tàn sát, chết chóc đẫm máu làm ai nấy đều phẫn nộ. Một cuộc chiến lớn nhất đã xảy ra làm những người đàn ông tham gia cuộc chiến đều ra đi và không một ai sống sót trở về. Họ để lại mẹ già, người vợ, những đứa con nhỏ sống trong cảnh lầm than, leo lắt từng ngày.
Nhưng trong đúng lúc đó đã xuất hiện một vị thần đã giải quyết được mọi việc làm chiến tranh kết thúc, hòa bình đã đến, cuộc sống của người dân được ấm no hạnh phúc. Khi cuộc sống được trở lại yến bình thì cũng là lúc vị nữ thần phải ra đi. Trước khi đi nữ thần đã trao lại quyền năng cho một người dẫn dắt bộ tộc.
Và quyền năng này được trao cho cô gái tròn 16 tuổi trinh nguyên. Cô gái bắt đầu thay đổi, cô trở nên xinh đẹp như một nàng tiên, một bộ đồ trắng mỏng manh thay thế cho y phục của bộ lạc tượng trưng cho sự thuần khiết.
Sau lễ hội, nhà tiên tri mới được đưa đến đền thờ dành cho mình. Giờ đây, cô được mọi người tôn sùng như một vị thánh nhưng cái
giá phải trả là cô sẽ phải ở đền thờ suốt sáu năm tại vị cũng như không bao giờ được lập gia đình sau đó.

Tục lệ cứ 6 năm lại được thực hiện một lần.  Cho đến lần thứ 127 có một cô gái tên Li -a một cô gái xinh đẹp trong sáng như thiên thần. Cô đã làm xiêu lòng không biết bao nhiêu chàng trai muốn cưới được cô nhưng cô chỉ để ý đến Erike, người hàng xóm lớn lên cùng cô. Lễ kết duyên hai người đã được định sẵn, nhưng buổi tuyển chọn nhà tiên tri đã phá vỡ tất cả.
Cha mẹ Li-a hủy lễ và khuyên con gái mình tham gia vào buổi chọn nhà tiên tri, vì đó là niềm tự hào của gia đình, vả lại chưa chắc cô sẽ được chọn, nếu không được, đám cưới sẽ diễn ra sau khi kết thúc lễ hội. Dù vậy, đêm đó Li-a vẫn khóc đến cạn nước mắt.
Trong buổi lế Li-a thầm cầu nguyện người được chọn không phải là cô, đó không phải con đường cô muốn, cô chỉ cần được bên cạnh người cô yêu mà thôi. Nhưng định mệnh vẫn là định mệnh. Li-a đã được chọn là nhà tiên tri mới.

Erike đau đớn bỏ đi khỏi bộ tộc và không còn ai nhìn thấy anh nữa. Mang trong mình trọng trách là một là tiên tri nhưng Li-a chưa bao giờ nguôi mong mỏi gặp lại người yêu, mỗi ngày cô đều cầu nguyện cho Erike được bình an sống trong hạnh phúc.
Rồi sau ba năm  Erike đã trở về làng với mong muốn gặp lại người a yêu. Hai người nhìn nhau trong xót xa và nước mắt. Erike đã khuyên nàng bỏ trốn cùng mình nhưng Li- a rất lo sợ khi mình nhận trách nhiệm của nhà tiên tri.
Erike bị phát hiện và bị bắt rồi hai người cùng chạy chốn vào rừng sâu.Vì chạy trốn nhiều ngày mà Li -a đã kiệt sức không thể đi tiếp được. Phía sau là tiếng hò hét của bộ tộc kéo đến, cô biết rằng nếu bị bắt chắc chắn Erike sẽ bị xử tử vì đây một trọng tội.

Không để cho Erike chạy thoát đám người bộ tộc đã dùng cung tên bắn những mũi tên nhọn sắc về phía Erike, một trong những mũi tên đã bay vào tim của Erike. Nhưng Lia- a đã đỡ mũi tên đó thay anh, Erike vô cùng đau đớn, sững sờ khi thấy Li- a bị thương. Li -a đã bảo Erike chạy đi nhưng anh vẫn không đi, anh thà chết bên cạnh cô chứ không muốn rời xa Li- a. Cô biết rằng với tình yêu anh dành cho cô anh sẽ không bỏ cô lại nơi đây. Hy sinh là thứ duy nhất cô có thể làm cho anh bây giờ.
Mũi tên đâm quá sâu vào ngực cô, nó cướp đi nguồn sức lực cuối cùng. Li-a cố gượng dậy, cô chống cây trượng xuống đất rồi giơ cao hai tay lên trời. Toàn bộ cánh đồng bỗng nhiên hóa thành một rừng cây cao gần hai mét ngăn những kẻ đuổi theo. Từ các bụi cây bỗng dưng hàng triệu bông hoa đua nở, chúng có hình cầu được tạo thành bởi các nhánh hoa nhỏ khác. Màu trắng của hoa ngập tràn trên cánh đồng. Một cảnh tượng đẹp kì lạ nhưng hình bóng Li-a dần phai nhạt rồi biến mất trước mắt Erike.


Xung quanh anh giờ đây chỉ có loài hoa lạ kia cũng chính là người con gái đã chết vì anh. Tự dằn vặt và trách bản thân, Erike không rời đi nửa bước, anh ở lại nơi đây bảo vệ cô, loài hoa màu trắng tinh khiết như tình yêu cô dành cho anh. Erike đã chết vì đói và khát sau những tháng ngày dài.
Tình yêu của họ đã tạo nên những màu sắc khác cho những bông hoa màu trắng tượng trưng cho tình yêu của họ: Vẫn giữ màu trắng trinh nguyên, màu đỏ mãnh liệt, màu xanh hy vọng, màu tím thuỷ chung,…Từ đó, người ta đặt tên cho loài hoa này là Cẩm Tú Cầu


3. Sự Tích Hoa Cẩm Chướng

Cẩm chướng, đóa hoa hồng như những viên bông gòn, không hương, nhưng lại rất đẹp. Cái đẹp thầm lặng. Cẩm chướng rất quan trọng trong cuộc sống của người Hy lạp và Ý. Vào thời phồn thịnh của Ý(Romans era) cẩm chướng trở thành biểu tượng của sự hùng mạnh của dân tộc nàỵ Cẩm chướng cũng được gọi là hoa của Jove, vì Jove là một trong những thần được quý chuộng nhất.
Sự tích cẩm chướng thật khó biết, nhưng một trong những điển tích của nó xuất phát từ thánh kinh. Sách vở kể lại trong thánh kinh, khi Đức Mẹ Đồng Trinh Mary nhìn thấy chúa Jesus bị đóng đinh, bà bật khóc. Từng giọt nước mắt của bà rơi xuống chân Chúa, thấm vào lòng đất và từ đó mọc lên những cành cẩm chướng đủ màu lộng lẫỵ…..
Cẩm chướng còn được dùng trong việc tiên đóan tương lai của người con gái vị thành niên ở Đại Hàn. Khi người con gái ở vào tuổi vị thành niên, ba đóa hoa cẩm chướng được cài lên búi tóc của cô gái theo thứ tự. Nếu đóa hoa nào tàn trước, chẳng hạn như đóa dưới cùng, cô bé sẽ phải chịu khổ cực cả cuộc đờị Còn nếu đóa trên cùng, thì những ngày cuối cuộc đời, cô bé phải chịu nhiều đau khổ. Khoảng đầu đời của cô bé sẽ rất khốn khó, nếu như đóa chính giữa tàn nhanh hơn hai đóa hoa kiạ….
Trong chuyện cổ tích của nước chúng tạ..Sự tích hoa cẩm chướng ít được người nhắc đến, có lẽ vì cẩm chướng không phải là hoa địa phương vì nó không xuất phát từ Việt Nam? Dù gì chăng nữa, hoa cẩm chướng cũng đã để lại một huyền thoại trong lòng những đứa trẻ thơ, trong những đêm trăng sáng quân quần nghe mẹ kể chuyện…..
Cẩm chướng cũng xuất phát từ một chuyện tình. Câu chuyện tình của một cô công chúa tóc dài sống lẻ loi trong cung điện trên vùng thượng nguồn. Trời cao nguyên lành lạnh đủ làm tăng màu đen óng ả của mái tóc, làm căng làn da mặt trắng hồng mịn màng như bông, làm màu đỏ của đôi môi người con gái như mọng hơn lên trong màn sương xám, và nhất là làm đôi mắt ướt cuả nàng như sáng long lanh trong những giọt sương. Cẩm Chướng đẹp nổi tiếng khắp nơi, nhưng đồng thời nàng bao giờ cũng mang một vẻ buồn. Sở dĩ nàng phải chịu cảnh sống lẻ loi giữa vùng hẻo lánh này chỉ vì lời tiên đoán của một lão ông với vua cha, khi nàng vừa chào đời, rằng nàng sẽ phải chịu nhiều bất hạnh. Vua cha vì sợ, và thương con, nên đành đem nàng đi cất giấu nơi đèo heo khuất gió để tránh khỏi hung tà. Thế nhưng tiếng đồn xa gần về sắc đẹp của Cẩm Chướng cũng lan nhanh, nhất là những buổi chiều khi giọng hát của nàng lan rộng khắp núi đồi, hoà vào hợp âm của những chú chim non hót véo von xung quanh, và những cơn gió reo bên ngoài. Bao nhiêu người đánh tiếng hỏi vợ, nhưng vua cha một mực từ chối, thâm tâm vẫn để ý kiếm tìm một phò mã xứng danh.
Một ngày kia, Cẩm Chướng lâm bạo bệnh. Thầy thuốc hết sức chữa nhưng đành cúi đầu chịu thua. Bỗng đâu vị lão phu ngày nọ đòi diện kiến nhà vua, và phán rằng bệnh của nàng chỉ có thể chữa được bằng cánh lá của một loài hoa trắng, mọc cheo leo trên đỉnh núi, giữa hai vực thẳm và một ngọn thác. Vua phải tìm cho bằng được cánh hoa đó để cứu con, nên truyền lệnh hễ ai kiếm được đóa hoa đó, sẽ lấy được nàng, và sẽ được truyền ngôi cho. Bao nhiêu chàng trai đua nhau vào rừng tìm kiếm, nhưng đều thất vọng, trong khi đó sức khoẻ của Cẩm Chướng tắt dần.
Trong lúc mọi người thất vọng, một hôm, người tiều phu trẻ, dáng nghèo nàn, xuống ngựa đem dâng vua cha bông hoa màu trắng. Từng cánh hoa phục hồi sức khỏe của nàng. Đôi mắt từ từ mở ra, lần đầu tiên để người ân nhân nhìn thấy bóng hình của hai đóa hoa thấp thoáng trong ánh mắt đó.
Lễ cưới được cử hành chưa được bao lâu, thì tai biến xảy đến cho đất nưóc. Tuân lệnh vua cha, chàng phò mã trẻ cầm quân, tạm chia tay với vợ, ra xa trường dẹp giặc ngoại xâm. Họ hẹn nhau ngày đoàn tụ, và chiều chiều nhờ gió hát gửi theo hướng đến người kia, như một lời trò chuyện. Những lá thư viết trên những cánh chim làm tin, đều đặn bay đi về.

Một hôm nàng bặt tin chồng, tiếng hát của nàng dường như loãng vào oảng không, chỉ còn tiếng vọng lại từ gió núi. Cẩm Chướng chờ mãi tin chồng, nhưng những cánh chim bay đi, rồi lại trở về không. Đoán điềm chẳng lành đã xảy ra, chiều chiều nàng ra nơi thác núi, tiếp tục chờ tin. Cho đến một buổi chiều, chim bay về đem tin chẳng lành. Bật khóc, và tuyệt vọng, Cẩm Chướng tung mình theo giòng thác, mất tích giữa giòng nước ồ ạt.
Từ chỗ chân nàng đứng, theo những giọt nước mắt rơi xuống, người ta về sau tìm thấy một loài hoa mới, với dáng dấp y hệt như đóa hoa trắng của anh tiều phu trẻ cứu người, chỉ khác màu đỏ thắm. Đóa hoa nở cạnh giòng thác, êm đềm, và dịu dàng, nhưng vẫn kiêu sa và vững vàng giữa trời gió cao nguyên và khí trời khắc nghiệt của cao nguyên.
Lạ hơn nữa, trong những ngày u uất nhất, người lữ khách vô tình soi bóng trên giòng nước, sẽ thấy bóng phản chiếu của những đóa hoa mang màu mắt long lanh, và bóng hình y hệt đôi mắt nàng công chúa. Từ đó hoa mang tên Cẩm Chướng, để tưởng nhớ hoài đến nàng công chúa chung thuỷ chờ chồng.
Sự tích hoa cẩm chướng có lẽ mang cùng một xuất phát, vì trong tiếng pháp, hoa cẩm chướng cũng mang cùng một cái tên “Oeillet”(đôi mắt). Huyền thoại Pháp cũng đã kể về một chuyện tình tương tự. Có thể đó cũng chỉ cùng một xuất xứ, một truyền thuyết? Như câu chuyện trong thánh kinh của mẹ. Maria.


4. Sự tích hoa Dã Quỳ

Ngày xửa ngày xưa, nơi buôn sóc nọ có chàng K'lang của núi rừng yêu tha thiết nàng H'limh của con suối.Ngày ngày chàng K'lang vào rừng săn bắt thú rừng còn nàng khéo léo dệt tấm chăn kiệu chồng (vì theo tục lệ của bộ tộc nàng con gái trước khi lấy chồng phải dệt một tấm chăn thật đẹp để mang về nhà chồng). Rồi tối tối họ lại quây quần đốt lửa và múa hát cùng dân làng trong buôn. Cuộc sống vui vẻ hạnh phúc của họ cứ trôi đi.

Đến một ngày kia khi H'limh chờ hoài đến tối mà vẫn không thấy K'lang đi săn về, nàng lo lắng từ buôn sóc nàng đi tìm K'lang, nàng cứ đi, đi mãi đi hết mười mấy con suối, mười mấy ngọn núi rồi mà không thấy người yêu của mình đâu cả. Mệt quá nàng ngủ thiếp đi trong giấc mơ nàng thấy K'lang gọi nàng và bảo nàng hãy đi thêm một con suối nữa sẽ gặp chàng ở đó. Nàng giật mình rồi đi tiếp đến cuối nguồn nàng nhìn thấy K'lang đang bị những tên hung ác của bộ tộc Lasiêng trói chặt. Nàng chạy lại ôm lấy chàng mặc cho những mũi tên, những ngọn giáo đâm vào da thịt. Mặc cho bao nhiêu đau đớn nàng vẫn quyết bảo vệ cho người yêu cho tới khi nàng bị trúng mũi tên độc cuối cùng của chàng La rihn con trai tộc trưởng Lasiêng. Vì quá hờn ghen với tình yêu của H'limh dành cho k'lang chàng đã buông lơi mũi tên hận tình. Chàng cũng không ngờ người lãnh trọn mũi tên ngiệt ngã ấy lại là H'limh - người con gái mà chàng ngày đêm thương thầm trộm nhớ mà không được đáp lại tình cảm.
Từ đó cứ mỗi độ tháng mười nơi nàng H'limh chết lại nở ra một loài hoa có màu vàng rực. Người ta thường gọi là hoa Dã Quỳ. Cây hoa Dã quỳ rất dễ mọc và mọc rất nhanh những cánh hoa màu vàng tràn đấy sức sống mãnh liệt như tình yêu chung thủy.




Dã quỳ mang một vẻ đẹp vừa hoang dã, vừa dịu dàng, thuần khiết


5. Sự Tích Hoa Bồ Công Anh
Đã lâu lắm rồi, khi con người mới hình thành nên các quốc gia và đang cố gắng củng cố sự vững mạnh của đất nước mình. Ở một vương quốc nọ, cũng giống như nhiều quốc gia khác, họ đang sống trong những ngày tháng đầu tiên của một thời kỳ phát triển mạnh mẽ. Cả đất nước dường như sôi nổi và phân kính với sự phát triển.
Ở nơi đó, trong một gia đình của vị quan có hai người con trai, một người còn khá nhỏ, người con trai còn lại đã bước sang độ tuổi 14. Cuộc sống của gia đình đối với nhiều người được coi là êm đềm và đầy đủ. Thế nhưng, cho đến một ngày, người cha gọi người con trai lớn và hỏi:” Sống ở trên đời việc lớn nhất đối với người con trai là gì?”
Người con trai trả lời: “Là một người con trai thì nên học tập và rèn luyện, còn là một người đàn ông thì phải giữ được cái cốt cách của một người con trai”.
Người cha cau mày và nói: “Vậy là con biết mình phải sống thế nào rồi hả?”.
“Dạ”- Người con trai đáp.
Người cha quay lưng đi mà không nói thêm lời nào.
Trong suốt quãng thời gian sau, cậu con trai lớn không ngừng trải qua bao nhiều thách thức của cuộc sống. Những bài học của từ những người trong gia đình đã trui rèn nên một con người, một người đàn ông thực sự.
Cậu con trai 14 năm nào đã trở thành chàng thanh niên cao lớn. Trong trái tim chàng là ẩm ủ bao nhiêu hoài bão, bao nhiêu mơ ước. Có những ước mơ thất nhỏ bé như một câu chuyện tình, có những hoài bão to lớn như một vị hoàng đế. Có những mơ ước mà chàng đã giành được, những vinh quang nhỏ nhặt và có cả những thật bại đầy nước mắt. Cho đến một ngày, chàng muốn đi tìm một chỗ đứng riêng cho mình, muốn một cuộc sống độc lập, chàng đã quyết định ra đi. Với nguồn lực của mình và số bạn bè của mình, chàng tự thiết lập cho mình một đội quân. Chàng muốn tự mình xây dựng một đế quốc cho riêng mình. Chàng đã ra đi.

Trải qua hàng trăm, hàng ngàn trận đánh. Đi qua biết bao nhiêu ngôi làng, nhưng những gì chàng giành được ngày một hùng mạnh, nhưng trong đàu chàng mới chỉ vọn vẹn có “kinh nghiệm về sự mất mát”. Thời gian dần trôi, mải mê với chính chiến, mái tóc xanh thủa nào đã ngả màu tráng ngà, cái màu của tuổi tác và sự phản chiếu của ánh nắng mặt trời.Vị hoàng đế, một mình một người chậm bước trên đất nước rộng lớn mà mình tạo ra. Ông mải mê đi, đi mãi, và dừng chân nghỉ trong phòng khác của một ngôi nhà nhỏ. Ngước mắt nhìn qua cửa sổ, ánh trăng đã lên cao.Trong mắt ông những kỷ niệm như tràn về, từ những ngày tháng thơ ấu, đến thời gian tha hương, xa xứ. Trong đâu ông hàng loạt những câu hỏi, những suy nghĩ về những gì ông chưa làm được. Ông nhớ những người thân thân, những người bạn, những người ông chưa làm được gì nhiều cho họ…

Ánh trăng đã xuống dần và vị hoàng đế gọi chủ nhà lại và nói: “Khi ta chết hãy chôn ta ở nới cánh đồng thảo nguyên rộng lớn ở quê ta. Ta muốn linh hồn ta được về với quên hương, để trở về với nới ta sinh ra. Dù ta ở đâu, bay xa đến đâu cũng sẽ có một ngày ta trở về mảnh đất đó”…”ta muốn gửi muôn phần hồn ta vào gió, phần theo cha, phần gửi mẹ, phần gửi người ta yêu, phần gửi những người ta đã lỡ hẹn, gửi những người cho ta là không đúng…”…”mỗi phần hồn là một lời nguyện cầu, nơi ta đến có nụ cười, có cả nước mắt,…”
Ít lâu sau vị hoàng đế băng hà. Theo lời căn dặn của ông, ông được chôn cắt tại thảo nguyên rộng lớn nơi quê hương ông sinh ra. Và từ nơi ông được chôn cắt mọc lên một loài hoa. Loài hoa lạ khi nở hoa trông như như những chiếc răng của loài sư tử. Khi hoa tàn những cánh hoa bay theo làn gió. Những cánh hoa tựa như những cây hoa thu nhỏ. Dựa mình theo gió mà bay…
Loài hoa đó được gọi tên hoa Bồ Công Anh… nơi gửi gắm những lời nguyện ước…

6. Sự Tích Về Hoa Mimosa


 
Chuyện kể rằng:
Ngày xưa, ở 1 vùng xa xôi tuyệt đẹp của Autralia, có 1 đôi tình nhân yêu nhau say đắm: chàng là 1 người đánh cá, thân hình vạm vỡ, nàng là con 1 bá tước, xinh đẹp tuyệt trần. 2 người đã có những ngày tháng thật đẹp bên nhau.

Đến 1 ngày, cha mẹ nàng bắt nàng phải lấy con của 1 bá tước khác, mặc dù nàng đã cương quyết không chấp nhận nhưng cuối cùng nàng cũng phải tuân theo.

Chàng trai, 1 phần vì buồn b
ã, đã rời bỏ vùng biển để lên sống nơi núi rừng. Còn cô gái, khi hay tin người yêu mình lên núi, trong đêm tân hôn, nàng đã bỏ trốn. Nhưng bi kịch lại nối tiếp bi kịch, 1 trận cháy rừng dữ dội đã thiêu chết chàng. Chàng, vì muốn cứu loài kanguru, gấu trúc cùng những loài thú hoang tội nghiệp khác đã lao vào ngọn lửa đó, và... chàng đã ngã xuống. Khi nàng đến nơi thì chỉ còn nhìn thấy 1 thân xác cháy đen. Quá đau khổ, nàng cũng chết theo. Và từ đó, nơi mà đôi tình nhân chết bên nhau mọc lên 1 loài cây lá lấp lánh ánh bạc, thổ dân ở đây đã đặt tên cho cây này 1 cái tên thật giản dị là: Mimosa.

Từ đó, những cô gái Đà Lạt thường hay ép vào trong vở hoa mimosa để tặng cho người yêu để bày tỏ sự trong trắng, chung thủy.


7. Sự tích Hoa Thạch Thảo (Aster)

 
Truyền thuyết
Kể rằng ngày xưa ở một ngôi làng vùng ngoại ô có một đôi trai gái là Ami và Edible. Hai người này sống cạnh nhà nhau từ nhỏ và họ chơi với nhau rất thân. Ngày tháng dần trôi, cô bé và cậu bé của ngày ấy nay đã trưởng thành. Edible giờ đây là một người có gương mặt khôi ngô, tuấn tú, dáng người cao cao và là tầm ngắm của biết bao cô gái trong làng. Nhưng anh không để ý tới ai cả vì trong lòng anh đã có hình bóng của người ấy, người con gái mà anh yêu chính là cô bé hồi đó bây giờ cũng đâu còn bé nữa đâu. Với làn da trắng, đôi môi mỏng, nho nhỏ, hồng hồng, xinh xinh cùng với mái tóc bồng bềnh màu gỗ nâu, những đường cong xoăn ôm lấy bờ vai nhỏ bé và khuôn mặt khả ái của Ami làm bao nhiêu chàng trai say đắm và mong ước có được trái tim nàng. Nhưng Ami chỉ đồng ý lấy ai thoả mãn được yêu cầu đó là đem về cho nàng một loài hoa lạ và nàng cảm thấy thích. Biết bao nhiêu chàng trai đã thử và đều lắc đầu bỏ cuộc. không ai có thể tìm ra loài hoa mà nàng thích kể cả Edible người hiểu rõ tính cách của nàng nhất.Ami và Edible thường hay cùng nhau vào rừng. Ami hái nấm còn Edible săn thú.

Vào cái ngày hôm ấy, lúc hoàng hôn khi mà giỏ nấm của Ami đã đầy và Edible cũng đã săn được một chú nai rừng. Hai người cùng nhau đi về, nhưng hôm nay họ ko về đường cũ như mọi khi nữa mà họ đã rẽ sang đường khác. Trên đường về, họ cùng nhau trò chuyện và ngắm cảnh rừng núi. Bỗng Ami nói lớn, gọi Edible và chỉ cho anh bụi hoa dạ màu tim tím mọc trên vách núi cao. ” Chính là nó, loài hoa ấy, Ami thích, rất thích”. Edible nhìn lên bụi hoa rồi nói với Ami:- Ami đứng đây chờ tôi, tôi sẽ hái xuống cho Ami- không không được. Edible vách núi cao và nguy hiểm lắm- Nhưng đó là loài hoa Ami thích, Edible sẽ lấy xuống cho Ami.- không, Ami khôngcho Edible đi. Lúc đó, Edible nhìn Ami mỉm cười rồi dùng ngón tay trỏ cốc nhẹ vào trán Ami.” Ami ngốc, đứng đây chờ anh, anh sẽ quay trở lại, sẽ mang nó xuống cho Ami, sẽ mang hạnh phúc đến cho Ami mãi mãi”.Nói xong anh từ từ leo lên vách núi ấy. Mặc cho Ami ngăn cản. Vách núi cao dựng đứng thật nguy hiểm không cẩn thận trượt chân thôi là mất mạng ngay. “Được rồi cuối cùng thì Edible cũng làm được” Edible nắm được bụi hoa trong tay quay xuống nói với Ami nhưng tại sao tự nhiên anh lại cảm thấy chóng mặt quá. Sao dưới mặt đất bây giờ lại có nhiều Ami thế. Anh bình tĩnh lại, quay xuống nói với Ami:" Ami! Edible làm được rồi, anh làm được rồi nhé!" Anh thả bụi hoa xuống cho Ami rồi sau đó tìm cách leo xuống. Lạ quá, đầu anh đau lắm, mắt không còn nhìn thấy gì nữa chóng hết cả mặt. Đau quá, anh không thể minh mẫn được nữa. Tay anh mỏi dần, chân mềm nhũn ra…- Edible….Không….Ami hét lên khi thấy Edible đang rơi xuống, thả người trong không trung. Anh quay mặt về phía Ami nói: xin đừng quên tôi rồi nở nụ cười mãn nguyện và anh đã đi xa xa mãi.
 Ami ngồi đó, ngồi bên bờ vực thẳm, ngồi như người mất hồn, không nói, không cười tay cầm lấy bụi hao tim tím ấy. Cô ngồi đó cho đến khi người trong làng vào tìm kiếm và đưa cô về. Một mình cô về được thôi còn Edible thì giờ đã không về được nữa rồi. Ami không khóc, cô không ăn uống gì cả, suốt ngày chỉ lặng lẽ ngồi trong vườn chăm sóc cho bụi hoa tim tím ấy, bụi hoa khiến cho Edible không về được nữa. Cứ như thế trong suốt một thời gian, cho đến một ngày cô đã chìm vào giấc ngủ dài, dài đến nỗi không bao giờ tỉnh lại và trong giấc ngủ đó chắc chắn 1 điều rằng cô và Edible đã gặp được nhau và họ là của nhau mãi mãi. Sau khi ami chết đi loài hoa tim tím ấy được người dân trong làng chăm sóc cẩn thận. Ai ai cũng thương xót cho đôi tình nhân trẻ. Ban đầu họ đặt tên cho nó là For get me not, sau nhìêu năm và qua được trồng ở nhiều nước nó lại có những cái tên khác nhau như Muget De Mai (pháp), Thạch thảo( Việt nam)… và những đôi tình nhân trẻ thường tặng cho nhau loài hoa này để rồi sẽ mãi mãi không quên nhau, sẽ luôn ở bên nhau cho dù là chết.

8. Sự tích hoa Đỗ Quyên

Có một đôi vợ chồng nọ, sống trong một khu làng nhỏ, nhà nghèo nhưng sống hạnh phúc, rất yêu thương nhau. Người chồng thì thường xuyên vào rừng sâu săn bắn, đốn củi. Bỗng một hôm đợi mãi chẳng thấy chồng quay về, mỗi ngày người vợ cứ ngóng dáng chồng sau buổi hoàng hôn. Một tháng, hai tháng, ba tháng vẫn chẳng thấy tin tức gì. Người vợ quyết định khăn gói lên đường đi tìm chồng, lúc sáng người vợ ra đi buổi chiều hôm đó người chồng đã quay về.
  

Đỗ quyên Đà Lạt

Cứ đi, cứ đi, ngày này qua ngày khác, đi đến lúc người vợ gục ngã bên tảng đá và trút hơi thở cuối cùng, thân xác này rã đi, bên tảng đá ấy mộc lên một loài cây, chỉ nở hoa khi mùa xuân về, màu hoa rất tươi và đẹp. Hồn người vợ bay về trời gặp Ông Tiên. Ông Tiên hỏi vì sao con gục gã và chết đi trong rừng sâu như thế này. Người vợ trả lời con đi tìm chồng. Ông đặt tên cho loài hoa này là hoa Đỗ (Đỗ có nghĩa là đợi).
 

Đỗ quyên đỏ cờ Đà Lạt

Khi người chồng trở về nhà thì chẳng thắy vợ mình đâu, bèn hỏi những người xung quanh, họ bảo rằng cô ấy đã vào rừng sâu tìm cậu. Thế là chồng cũng khăn gói lên đường tìm vợ, đi mãi đi mãi, lại kiệt sức đúng trên tảng đá mà người vợ đã chết trước kia. Người chồng hoá kiếp thành một loài chim, loài chim này sống đơn độc một mình và đặt biệt cất tiếng hót khi trời đã hoàng hôn, tiếng hót như tiếng kêu than, tuyệt vọng.
Ông Tiên đã chứng kiến tình yêu thương của đôi vợ chồng này, đặt tên cho loài chim này là chim Quyên (Quyên đọc trại có nghĩa là Quên).

Và không biết từ bao giờ lài hoa này được mọi người gọi là hoa Đỗ Quyên. Để tưởng nhớ cho mối tình chung thuỷ!

Hoa Đỗ Quyên 
Có một đôi vợ chồng nọ, sống trong một khu làng nhỏ, nhà nghèo nhưng sống hạnh phúc, rất yêu thương nhau. Người chồng thì thường xuyên vào rừng sâu săn bắn, đốn củi. Bỗng một hôm đợi mãi chẳng thấy chồng quay về, mỗi ngày người vợ cứ ngóng dáng chồng sau buổi hoàng hôn.
Một tháng, hai tháng, ba tháng vẫn chẳng thấy tin tức gì. Người vợ quyết định khăn gói lên đường đi tìm chồng, lúc sáng người vợ ra đi buổi chiều hôm đó người chồng đã quay về.
Cứ đi, cứ đi, ngày này qua ngày khác, đi đến lúc người vợ gục ngã bên tảng đá và trút hơi thở cuối cùng, thân xác này rã đi, bên tảng đá ấy mộc lên một loài cây, chỉ nở hoa khi mùa xuân về, màu hoa rất tươi và đẹp. Hồn người vợ bay về trời gặp Ông Tiên. Ông Tiên hỏi vì sao con gục gã và chết đi trong rừng sâu như thế này. Người vợ trả lời con đi tìm chồng. Ông đặt tên cho loài hoa này là hoa Đỗ (Đỗ có nghĩa là đợi).
Khi người chồng trở về nhà thì chẳng thắy vợ mình đâu, bèn hỏi những người xung quanh, họ bảo rằng cô ấy đã vào rừng sâu tìm cậu. Thế là chồng cũng khăn gói lên đường tìm vợ, đi mãi đi mãi, lại kiệt sức đúng trên tảng đá mà người vợ đã chết trước kia. Người chồng hoá kiếp thành một loài chim, loài chim này sống đơn độc một mình và đặt biệt cất tiếng hót khi trời đã hoàng hôn, tiếng hót như tiếng kêu than, tuyệt vọng.
Ông Tiên đã chứng kiến tình yêu thương của đôi vợ chồng này, đặt tên cho loài chim này là chim Quyên (Quyên đọc trại có nghĩa là Quên). 

Và không biết từ bao giờ lài hoa này được mọi người gọi là Hoa Đỗ Quyên. Để tưởng nhớ cho mối tình chung thuỷ! nhau. Người chồng thì thường xuyên vào rừng sâu săn bắn, đốn củi. Bỗng một hôm đợi mãi chẳng thấy chồng quay về, mỗi ngày người vợ cứ ngóng dáng chồng sau buổi hoàng hôn.
Một tháng, hai tháng, ba tháng vẫn chẳng thấy tin tức gì. Người vợ quyết định khăn gói lênCó một đôi vợ chồng nọ, sống trong một khu làng nhỏ, nhà nghèo nhưng sống hạnh phúc, rất yêu thương nhau. Người chồng thì thường xuyên vào rừng sâu săn bắn, đốn củi. Bỗng một hôm đợi mãi chẳng thấy chồng quay về, mỗi ngày người vợ cứ ngóng dáng chồng sau buổi hoàng hôn.
Một tháng, hai tháng, ba tháng vẫn chẳng thấy tin tức gì. Người vợ quyết định khăn gói lên đường đi tìm chồng, lúc sáng người vợ ra đi buổi chiều hôm đó người chồng đã quay về.
Cứ đi, cứ đi, ngày này qua ngày khác, đi đến lúc người vợ gục ngã bên tảng đá và trút hơi thở cuối cùng, thân xác này rã đi, bên tảng đá ấy mộc lên một loài cây, chỉ nở hoa khi mùa xuân về, màu hoa rất tươi và đẹp. Hồn người vợ bay về trời gặp Ông Tiên. Ông Tiên hỏi vì sao con gục gã và chết đi trong rừng sâu như thế này. Người vợ trả lời con đi tìm chồng. Ông đặt tên cho loài hoa này là hoa Đỗ (Đỗ có nghĩa là đợi).
Khi người chồng trở về nhà thì chẳng thắy vợ mình đâu, bèn hỏi những người xung quanh, họ bảo rằng cô ấy đã vào rừng sâu tìm cậu. Thế là chồng cũng khăn gói lên đường tìm vợ, đi mãi đi mãi, lại kiệt sức đúng trên tảng đá mà người vợ đã chết trước kia. Người chồng hoá kiếp thành một loài chim, loài chim này sống đơn độc một mình và đặt biệt cất tiếng hót khi trời đã hoàng hôn, tiếng hót như tiếng kêu than, tuyệt vọng.
Ông Tiên đã chứng kiến tình yêu thương của đôi vợ chồng này, đặt tên cho loài chim này là chim Quyên (Quyên đọc trại có nghĩa là Quên).

Và không biết từ bao giờ lài hoa này được mọi người gọi là Hoa Đỗ Quyên. Để tưởng nhớ cho mối tình chung thuỷ! đường đi tìm chồng, lúc sáng người vợ ra đi buổi chiều hôm đó người chồng đã quay về.
Cứ đi, cứ đi, ngày này qua ngày khác, đi đến lúc người vợ gục ngã bên tảng đá và trút hơi thở cuối cùng, thân xác này rã đi, bên tảng đá ấy mộc lên một loài cây, chỉ nở hoa khi mùa xuân về, màu hoa rất tươi và đẹp. Hồn người vợ bay về trời gặp Ông Tiên. Ông Tiên hỏi vì sao con gục gã và chết đi trong rừng sâu như thế này. Người vợ trả lời con đi tìm chồng. Ông đặt tên cho loài hoa này là hoa Đỗ (Đỗ có nghĩa là đợi).
Khi người chồng trở về nhà thì chẳng thắy vợ mình đâu, bèn hỏi những người xung quanh, họ bảo rằng cô ấy đã vào rừng sâu tìm cậu. Thế là chồng cũng khăn gói lên đường tìm vCó một đôi vợ chồng nọ, sống trong một khu làng nhỏ, nhà nghèo nhưng sống hạnh phúc, rất yêu thương nhau. Người chồng thì thường xuyên vào rừng sâu săn bắn, đốn củi. Bỗng một hôm đợi mãi chẳng thấy chồng quay về, mỗi ngày người vợ cứ ngóng dáng chồng sau buổi hoàng hôn.
Một tháng, hai tháng, ba tháng vẫn chẳng thấy tin tức gì. Người vợ quyết định khăn gói lên đường đi tìm chồng, lúc sáng người vợ ra đi buổi chiều hôm đó người chồng đã quay về.
Cứ đi, cứ đi, ngày này qua ngày khác, đi đến lúc người vợ gục ngã bên tảng đá và trút hơi thở cuối cùng, thân xác này rã đi, bên tảng đá ấy mộc lên một loài cây, chỉ nở hoa khi mùa xuân về, màu hoa rất tươi và đẹp. Hồn người vợ bay về trời gặp Ông Tiên. Ông Tiên hỏi vì sao con gục gã và chết đi trong rừng sâu như thế này. Người vợ trả lời con đi tìm chồng. Ông đặt tên cho loài hoa này là hoa Đỗ (Đỗ có nghĩa là đợi).
Khi người chồng trở về nhà thì chẳng thắy vợ mình đâu, bèn hỏi những người xung quanh, họ bảo rằng cô ấy đã vào rừng sâu tìm cậu. Thế là chồng cũng khăn gói lên đường tìm vợ, đi mãi đi mãi, lại kiệt sức đúng trên tảng đá mà người vợ đã chết trước kia. Người chồng hoá kiếp thành một loài chim, loài chim này sống đơn độc một mình và đặt biệt cất tiếng hót khi trời đã hoàng hôn, tiếng hót như tiếng kêu than, tuyệt vọng.
Ông Tiên đã chứng kiến tình yêu thương của đôi vợ chồng này, đặt tên cho loài chim này là chim Quyên (Quyên đọc trại có nghĩa là Quên).

Và không biết từ bao giờ lài hoa này được mọi người gọi là Hoa Đỗ Quyên. Để tưởng nhớ cho mối tình chung thuỷ! ợ, đi mãi đi mãi, lại kiệt sức đúng trên tảng đá mà người vợ đã chết trước kia. Người chồng hoá kiếp thành một loài chim, loài chim này sống đơn độc một mình và đặt biệt cất tiếng hót khi trời đã hoàng hôn, tiếng hót như tiếng kêu than, tuyệt vọng.
Ông Tiên đã chứCó một đôi vợ chồng nọ, sống trong một khu làng nhỏ, nhà nghèo nhưng sống hạnh phúc, rất yêu thương nhau. Người chồng thì thường xuyên vào rừng sâu săn bắn, đốn củi. Bỗng một hôm đợi mãi chẳng thấy chồng quay về, mỗi ngày người vợ cứ ngóng dáng chồng sau buổi hoàng hôn.
Một tháng, hai tháng, ba tháng vẫn chẳng thấy tin tức gì. Người vợ quyết định khăn gói lên đường đi tìm chồng, lúc sáng người vợ ra đi buổi chiều hôm đó người chồng đã quay về.
Cứ đi, cứ đi, ngày này qua ngày khác, đi đến lúc người vợ gục ngã bên tảng đá và trút hơi thở cuối cùng, thân xác này rã đi, bên tảng đá ấy mộc lên một loài cây, chỉ nở hoa khi mùa xuân về, màu hoa rất tươi và đẹp. Hồn người vợ bay về trời gặp Ông Tiên. Ông Tiên hỏi vì sao con gục gã và chết đi trong rừng sâu như thế này. Người vợ trả lời con đi tìm chồng. Ông đặt tên cho loài hoa này là hoa Đỗ (Đỗ có nghĩa là đợi).
Khi người chồng trở về nhà thì chẳng thắy vợ mình đâu, bèn hỏi những người xung quanh, họ bảo rằng cô ấy đã vào rừng sâu tìm cậu. Thế là chồng cũng khăn gói lên đường tìm vợ, đi mãi đi mãi, lại kiệt sức đúng trên tảng đá mà người vợ đã chết trước kia. Người chồng hoá kiếp thành một loài chim, loài chim này sống đơn độc một mình và đặt biệt cất tiếng hót khi trời đã hoàng hôn, tiếng hót như tiếng kêu than, tuyệt vọng.
Ông Tiên đã chứng kiến tình yêu thương của đôi vợ chồng này, đặt tên cho loài chim này là chim Quyên (Quyên đọc trại có nghĩa là Quên).


Và không biết từ bao giờ lài hoa này được mọi người gọi là Hoa Đỗ Quyên. Để tưởng nhớ cho mối tình chung thuỷ! ng kiến tình yêu thương của đôi vợ chồng này, đặt tên cho loài chim này là chim Quyên (Quyên đọc trại có nghĩa là Quên).
Và không biết từ bao giờ lài hoa này được mọi người gọi là Hoa Đỗ Quyên. Để tưởng nhớ cho mối tình chung thuỷ!
Xem thêm: Chuơng trình festival hoa Đà Lạt

Nhận xét&Bình luận

| Copyright © 2014 Lễ hội festival hoa Đà lạt: Dịch vụ du lịch Đà Lạt giá rẻ